Nhảy đến nội dung
x

Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định mã định danh cho từng địa điểm

Nghị định về định danh địa điểm chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9

Ngày 19 tháng 8 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký, gồm 3 chương, 15 điều kèm phụ lục danh mục đối tượng được định danh, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 9 năm 2026 (Báo Điện tử Chính phủ, 19/8/2026). Nghị định được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Đo đạc và Bản đồ số 27/2018/QH14 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, cho thấy tính liên ngành của chính sách, vừa phục vụ chuyển đổi số quốc gia, vừa liên quan trực tiếp đến quản lý đất đai, xây dựng và bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 326/2026/NĐ-CP). Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định, định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác; đối tượng được định danh, theo khoản 2 Điều 2, bao gồm thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh và các cấu trúc vật lý khác theo phụ lục kèm theo. Cơ quan được Bộ Công an giao quản lý Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm có trách nhiệm chủ trì xây dựng hệ thống, còn các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, đồng bộ dữ liệu chuyên ngành đang quản lý (Điều 9 đến Điều 15 Nghị định). Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, địa bàn có mật độ thửa đất, công trình xây dựng và tần suất biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thuộc nhóm cao nhất cả nước, việc đồng bộ dữ liệu định danh địa điểm với Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và các hệ thống thông tin của địa phương có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác quản lý đô thị, cấp phép xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính về đất đai.

Nguyên tắc định danh và cấu trúc mã định danh gồm 12 chữ số

Điều 3 Nghị định xác lập sáu nguyên tắc định danh địa điểm, trong đó nguyên tắc trung tâm là mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm tính liên tục, ổn định và không trùng lặp trong toàn hệ thống (khoản 1 Điều 3). Đối với các đối tượng có kết cấu kéo dài dọc theo đường giao thông, việc định danh được thực hiện thông qua địa chỉ điểm đầu, điểm cuối và các điểm giao cắt trên tuyến (khoản 2 Điều 3). Việc định danh không thay thế chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành hiện hành mà được xây dựng trên cơ sở kế thừa, đồng bộ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành đã có, tránh trùng lặp, lãng phí nguồn lực đầu tư (khoản 3, khoản 6 Điều 3). Về cấu trúc kỹ thuật, Điều 4 quy định mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập, có khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin với các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành khác. Điều 5 liệt kê 17 nhóm thông tin được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, trong đó đáng chú ý là thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84, thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có, trạng thái hoạt động của địa điểm và cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm. Việc dữ liệu định danh địa điểm dẫn chiếu trực tiếp đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy mã định danh 12 chữ số được thiết kế để trở thành lớp dữ liệu nền tảng, gắn kết chặt chẽ với hồ sơ pháp lý về quyền đối với bất động sản.

Hình 1

Cơ chế khai thác dữ liệu và yêu cầu bảo vệ quyền của chủ thể dữ liệu

Điều 7 Nghị định phân loại dữ liệu định danh địa điểm thành hai nhóm, dữ liệu công khai được khai thác tự do qua ứng dụng định danh quốc gia VNeID, và dữ liệu không công khai gồm thông tin kết cấu, thông tin không gian ba chiều, cơ quan chủ quản dữ liệu, chủ sở hữu hoặc người sử dụng địa điểm, phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước khi khai thác, chia sẻ (khoản 3 Điều 7). Đáng chú ý, khoản 2 Điều 7 quy định cơ chế khai thác thông tin gắn với các trường hợp đặc thù về năng lực chủ thể, theo đó việc khai thác thông tin của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người dưới 14 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ, việc khai thác thông tin của người bị tuyên bố mất tích phải được sự đồng ý của người đang quản lý tài sản của người đó, còn việc khai thác thông tin của người đã chết phải được sự đồng ý của người thừa kế. Tổ chức, cá nhân ngoài các trường hợp nêu trên muốn khai thác dữ liệu phải thực hiện qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và nộp phí khai thác, sử dụng thông tin (điểm đ khoản 2 Điều 7). Điều 8 bổ sung điều kiện, trình tự kết nối kỹ thuật đối với cơ quan, tổ chức có nhu cầu kết nối hệ thống, trong đó hệ thống thông tin phải bảo đảm an toàn tối thiểu cấp độ 3 và thời hạn kiểm tra an ninh, an toàn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu.

Góc nhìn luật dân sự về định danh địa điểm gắn với bất động sản và bảo vệ chủ thể quyền

Dưới góc độ khoa học pháp lý dân sự, Nghị định số 326/2026/NĐ-CP có ý nghĩa trước hết ở việc thiết lập một lớp dữ liệu định danh thống nhất cho các đối tượng gắn liền với khái niệm bất động sản theo khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, theo đó bất động sản bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai và tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng. Việc khoản 2 Điều 2 Nghị định xác định đối tượng được định danh gồm thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng cho thấy mã định danh 12 chữ số thực chất là một công cụ kỹ thuật hỗ trợ nhận diện chính xác đối tượng của quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản là bất động sản, vốn phải được đăng ký theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đăng ký tài sản theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, việc dữ liệu định danh địa điểm lưu giữ thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định tạo cơ sở kỹ thuật để liên kết mã định danh địa điểm với quyền sử dụng đất, một loại quyền tài sản theo Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015, qua đó gián tiếp phục vụ hoạt động chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất và đăng ký biện pháp bảo đảm bằng bất động sản, lĩnh vực gắn trực tiếp với chế định vật quyền bảo đảm trong pháp luật dân sự. Mặt khác, cơ chế khai thác thông tin tại khoản 2 Điều 7 Nghị định là sự vận dụng cụ thể các quy định về năng lực hành vi dân sự và đại diện trong Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó việc dẫn chiếu người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tương ứng với Điều 22 và Điều 23, người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ tương ứng với các quy định về giám hộ, người quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích tương ứng với Điều 69, và người thừa kế của người đã chết tương ứng với các quy định về thừa kế tại Phần thứ tư Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc một văn bản kỹ thuật về cơ sở dữ liệu quốc gia phải viện dẫn đầy đủ các chế định về năng lực chủ thể, đại diện, giám hộ, quản lý tài sản người vắng mặt và thừa kế cho thấy tính thống nhất, xuyên suốt của các nguyên tắc dân sự nền tảng trong toàn bộ hệ thống pháp luật, kể cả trong lĩnh vực quản lý dữ liệu số. Đây là nội dung có giá trị tham chiếu trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu về vật quyền, quyền tài sản và năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự tại các cơ sở đào tạo luật, trong đó có Khoa Luật Trường Đại học Tôn Đức Thắng.

Nguồn tham khảo

Báo Điện tử Chính phủ. (2026, ngày 19 tháng 8). Mỗi địa điểm sẽ có mã định danh 12 chữ số, hiển thị trên VNeID. https://baochinhphu.vn/moi-dia-diem-se-co-ma-dinh-danh-12-chu-so-hien-thi-tren-vneid-102260819150359235.htm

Nghị định số 326/2026/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 2026 của Chính phủ quy định về định danh địa điểm.