Nhảy đến nội dung
x

Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận thành viên từ tháng 8 năm 2026

Từ giai đoạn chuẩn bị sang giai đoạn hành động

Ngày 11 tháng 8 năm 2026, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty CBRE Việt Nam tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư với chủ đề Kiến tạo cửa ngõ kết nối Việt Nam với dòng vốn toàn cầu. Tại hội nghị, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm, cho biết hệ thống quy chế và cơ sở pháp lý của Trung tâm đã hoàn thiện, việc tiếp nhận đơn đăng ký làm thành viên bắt đầu ngay trong tháng 8 năm 2026.

Cơ sở pháp lý của Trung tâm gồm hai tầng văn bản. Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội quy định việc thành lập, hoạt động, quản lý, giám sát và các cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng đối với Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Nghị định số 323/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ gồm bảy chương với hai mươi ba điều, quy định chi tiết Điều 8 và Điều 9 của Nghị quyết, theo đó Trung tâm là một thực thể pháp lý thống nhất hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ranh giới Trung tâm rộng 898 hécta, gồm một phần phường Bến Thành, một phần phường Sài Gòn và phần lớn phường Thủ Thiêm. Theo bảng xếp hạng các trung tâm tài chính toàn cầu GFCI 39 công bố năm 2026, Trung tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh xếp thứ 84 trong số 120 trung tâm được đánh giá, tăng 11 bậc so với kỳ trước và đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á.

Ưu đãi thuế theo Nghị quyết số 222/2025/QH15

Nội dung được chú ý nhất tại hội nghị là chính sách thuế. Theo công bố của Cơ quan điều hành, mức thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các ngành nghề ưu đãi trong Trung tâm là 0% đến năm 2030, sau đó duy trì ở mức 10%, thấp hơn mức 17% hiện hành của Singapore (Công Triệu, 2026). Cách công bố này phù hợp với cơ chế tại Điều 19 Nghị quyết số 222/2025/QH15, theo đó dự án thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, được miễn thuế tối đa bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo. Thời hạn miễn thuế bốn năm đầu, tính từ thời điểm Trung tâm vận hành năm 2026, tương ứng với mốc năm 2030 nêu trong công bố. Các dự án khác trong Trung tâm được áp dụng thuế suất 15% trong 15 năm. Chuyên gia, nhà quản lý và nhà đầu tư làm việc tại Trung tâm được miễn thuế thu nhập cá nhân đến hết năm 2030, cùng thời hạn với chính sách miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn.

Khung pháp lý đặc thù và cơ chế giải quyết tranh chấp

Hình 1

Về ngoại hối, Điều 16 Nghị quyết số 222/2025/QH15 cho phép thành viên Trung tâm sử dụng ngoại tệ trong giao dịch, thanh toán và định giá với thành viên khác hoặc với bên nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển vốn, lợi nhuận và các khoản thu nhập hợp pháp ra vào Trung tâm thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tài chính được ủy quyền. Về đổi mới tài chính, Điều 24 Nghị quyết thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cho phép các mô hình tài chính và công nghệ mới được vận hành dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, trong đó tổ chức tham gia được miễn áp dụng một số quy định pháp luật trong thời gian thử nghiệm (Nguyễn Văn Phúc, 2025).

Về pháp luật áp dụng và giải quyết tranh chấp, đại diện Cơ quan điều hành cho biết Trung tâm sẽ ưu tiên vận dụng các nguyên tắc thông luật trong phạm vi pháp luật cho phép, xây dựng khung pháp lý chuyên biệt cho hoạt động ngoại hối và dòng vốn xuyên biên giới, đồng thời vận hành tòa án chuyên biệt cùng cơ chế trọng tài quốc tế, trong đó thẩm phán nước ngoài có thể tham gia xét xử. Trung tâm cũng áp dụng các quy định về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố cùng nghĩa vụ lưu giữ hồ sơ, đối soát nhằm bảo vệ tính minh bạch của môi trường đầu tư (Công Triệu, 2026). Về quy mô dòng vốn, Cơ quan điều hành đặt mục tiêu thu hút vài tỉ đô la Mỹ ngay trong năm đầu tiên và tiến tới mức 10 đến 15 tỉ đô la Mỹ mỗi năm cho nền kinh tế thực, trong bối cảnh nhu cầu vốn của Việt Nam giai đoạn 2026 đến 2050 được ước tính khoảng 1,5 đến 1,6 nghìn tỉ đô la Mỹ và tỷ lệ tín dụng trên tổng sản phẩm quốc nội đã vượt 150%.

Một số vấn đề đặt ra dưới góc nhìn khoa học pháp lý

Thứ nhất, cơ chế pháp lý đặc thù của Trung tâm cần được đặt trong quan hệ với các quy tắc chọn luật của pháp luật dân sự hiện hành. Theo khoản 2 Điều 664 Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài chỉ được lựa chọn pháp luật áp dụng khi điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định, và khoản 1 Điều 683 Bộ luật này ghi nhận quyền lựa chọn đó đối với quan hệ hợp đồng. Nghị quyết số 222/2025/QH15, với tính chất văn bản quy phạm do Quốc hội ban hành, tạo cơ sở luật định để mở rộng quyền lựa chọn pháp luật áp dụng trong phạm vi Trung tâm. Ranh giới còn cần làm rõ là các giao dịch giữa thành viên Trung tâm với tổ chức, cá nhân bên ngoài Trung tâm, vốn vẫn chịu sự điều chỉnh của quy tắc chung.

Thứ hai, định hướng ưu tiên vận dụng nguyên tắc thông luật đặt ra bài toán kỹ thuật tiếp nhận án lệ và tập quán tài chính quốc tế trong một hệ thống pháp luật thuộc truyền thống dân luật. Chuẩn mực giải thích hợp đồng tại Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2015 và cơ chế kiểm soát hợp đồng theo mẫu tại Điều 405 Bộ luật này sẽ được vận dụng ra sao khi bên soạn thảo là định chế tài chính chuyên nghiệp còn hợp đồng lại được thiết kế theo khuôn mẫu của thị trường vốn quốc tế, đó là câu hỏi chưa có lời giải trong các văn bản đã ban hành.

Thứ ba, hiệu lực thực tế của tòa án chuyên biệt và của trung tâm trọng tài thuộc Trung tâm phụ thuộc vào cơ chế công nhận và cho thi hành phán quyết. Đối với phán quyết trọng tài nước ngoài, Việt Nam là thành viên Công ước New York năm 1958 và việc công nhận, cho thi hành tại Việt Nam thực hiện theo thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó căn cứ từ chối vì trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam sẽ là phép thử cho mức độ tương thích giữa chuẩn mực của Trung tâm và trật tự pháp lý chung. Giới hạn tương tự đối với việc áp dụng pháp luật nước ngoài đã được ghi nhận tại Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ba vấn đề trên là những khoảng trống nghiên cứu mà giới luật học trong nước có thể sớm góp lời giải, đồng thời gợi mở nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực pháp lý am hiểu tài chính quốc tế, lĩnh vực mà sinh viên ngành luật tại Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế tiếp cận ngay từ giai đoạn Trung tâm bắt đầu vận hành.

Nguồn tham khảo

Báo điện tử Chính phủ. (2025, ngày 19 tháng 12). Ban hành Nghị định về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. https://baochinhphu.vn/ban-hanh-nghi-dinh-ve-thanh-lap-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-tai-viet-nam-102251219181345756.htm

Chính phủ. (2025). Nghị định số 323/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2025 về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Công Triệu. (2026, ngày 11 tháng 8). Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM miễn thuế kinh doanh ngành nghề ưu đãi cho tới năm 2030. Tuổi Trẻ Online. https://tuoitre.vn/trung-tam-tai-chinh-quoc-te-tphcm-mien-thue-kinh-doanh-nganh-nghe-uu-dai-cho-toi-nam-2030-100260811151841282.htm

Nguyễn Văn Phúc. (2025, ngày 2 tháng 9). Nghị quyết 222 của Quốc hội: Đòn bẩy thể chế cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Tạp chí Pháp lý. https://phaply.net.vn/nghi-quyet-222-cua-quoc-hoi-don-bay-the-che-cho-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-tai-viet-nam-a260499.html

Quốc hội. (2015). Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015.

Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=214392